Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Lãng mạn Tokyo


Nếu có ai hỏi thích Tokyo vì cái gì thì thực sự là tôi không thể chỉ rõ được – không phải vì không có cái gì để thích mà là có… quá nhiều thứ để một người nước ngoài như tôi quan tâm.
 
Không phải lần đầu tiên tới đất Nhật, nên bước xuống sân bay Narita, tôi chẳng thấy lạ lẫm gì. Nhưng lần nào cũng vậy, tôi không thích đi tàu cao tốc Shinkansen thẳng một mạch về trung tâm mà luôn trèo lên xe bus để trong gần 2 tiếng có dịp ngắm thiên nhiên, phố phường – trừ 30 phút đầu luôn rơi vào trạng thái buồn ngủ vì xe êm, lại sau một chặng bay đêm. Máy bay từ Việt Nam đến Narita thường hạ cánh vào sáng sớm, vì thế bước ra khỏi nhà ga là cảm thấy ngay cái se lạnh của mùa Thu, và khi đó thì không có gì hợp hơn một chén súp miso nóng hoặc ít ra là một ly trà xanh ngay tại một cửa hàng nhỏ trong sân bay.

shibuya 

Vào thời điểm này của năm, nếu có dịp đến Tokyo thì tôi phải đến con đường Omotesando cho kỳ được vì cả con phố độc đáo này như thể đã vào mùa Giáng Sinh. Đây là khu phố mua sắm nổi tiếng của Tokyo với toàn những thương hiệu nổi tiếng, và đây cũng là nơi có các quán cafe lãng mạn kiểu Pháp mà các đôi tình nhân rất thích hẹn hò. Tiếc là truyền thống thắp đèn đón Giáng Sinh đã bị hủy bỏ kể từ khi người dân nơi đây phàn nàn rằng vì nó mà con đường trở nên quá đông đúc và gây ồn ào trong tháng cuối năm.
 
Nhưng con đường Omotesando vẫn thu hút giới trẻ bởi sự hào nhoáng và thơ mộng cố hữu. Đó là chưa kể đến công viên Yoyogi cực rộng ngay gần đó chẳng lúc nào vắng người và khu vực Harajuku mà mỗi buổi chiều, nhất là vào cuối Hè, đều tụ tập những cô cậu Cosplay ăn mặc như những nhân vật trong truyện tranh hay phim kinh dị.
 
Từ Omotesando, đi bộ chừng 20 phút ngang qua đài truyền hình NHK sẽ tới một khu vực khác cũng “hút người trẻ” không kém là Shibuya. Đoạn phố trước cửa ga tàu điện Shibuya quá nổi tiếng tới mức xuất hiện trong không ít bộ phim. Tuy qua nhiều năm, có một số tòa nhà mới dựng lên, một số màn hình quảng cáo đã thay đổi, nhưng chỉ lướt qua vài khuôn hình trên màn ảnh là có thể nhận rõ đoạn đường này. Nổi tiếng nhất có lẽ chính là cảnh quay trong phim “The Fast and the Furious: Tokyo Drift” khi cậu học sinh trung học Sean Boswell (do Lucas Black thủ vai) trượt xe điệu nghệ qua dòng người ken đặc.
 
Shibuya cũng là nơi tập trung nhiều trung tâm shopping lớn như Tokyu, Marui, Loft, Bic Camera nhưng điểm nhấn chính là những con phố mua sắm nhỏ với đủ loại cửa hàng vui mắt bán từ quần áo, giày dép, đồ trang sức cho đến điện thoại di động hay kẹo bánh. Xen giữa những cửa hàng này, tất nhiên, là đủ loại nhà hàng, quán rượu, và đặc biệt là những trung tâm trò chơi điện tử cho thanh niên hoặc Pachinko – một trò tiêu khiển nhìn thoáng qua thì khá đơn giản, thậm chí có phần tẻ nhạt, nhưng lại vô cùng hút khách.
 
Sầm uất và nhộn nhịp nhất ở Tokyo có lẽ phải kể đến khu Shinjuku bởi nơi đây là một điểm tụ về của nhiều tuyến đường tàu điện. Ga tàu rộng đến nỗi, nếu đi theo đường vòng bên ngoài thì chắc mất cả tiếng đồng hồ mới về được điểm xuất phát.
 
Shinjuku có rất nhiều tòa nhà cao tầng, hùng dũng uy nghi. Tòa Thị chính cũng nằm nơi đây và luôn thu hút nhiều du khách cả trong và ngoài nước lên tới tầng sát mái để dùng ống nhòm nhìn toàn cảnh thành phố. Nhưng không phải ai cũng biết rằng ngay gần ga có những con phố rất nhỏ với những quán rượu càng nhỏ hơn – có quán thậm chí chỉ ngồi được 5-6 người, kể cả chủ quán. Trong 3 đêm ít ỏi lưu lại Tokyo lần này, một người bạn đã dẫn tôi đến quán rượu quen, có bà chủ tóc bạc rối bù hay chuyện, vốn là geisha trên phố Ginza sang trọng mấy chục năm về trước. Quán chật chội, chỉ kê được hai bàn, người dưng bỗng gần như người thân, từ bàn này tham gia chuyện bàn kia, rồi cao hứng thì ôm đàn hát từ dân ca Nhật cho đến pop Âu Mỹ.
 
Cạnh tranh với Shinjuku về các hàng quán ban đêm có lẽ là Ropponggi. Có lẽ đây là khu phố duy nhất không ngủ ở Tokyo. Buổi tối phố xá nhộn nhịp đã đành, đến 3, 4 giờ sáng vẫn dập dìu chẳng khác lúc 6, 7 giờ tối, người đi lại vẫn cứ nháo nhào, cả người tỉnh lẫn người say, các cửa hàng vẫn chào mời khách nhiệt tình ngay ngoài cửa và cả những quầy nhỏ ven đường thản nhiên bán hoa khiên tôi phải tự hỏi trong đầu xem có ai lại tặng hoa vào thời điểm đó trong ngày để những người bán vẫn tồn tại.
 
Tokyo lạ thế đấy! Mỗi lần đặt chân tới là một lần khám phá thêm một điều gì đó mới mẻ, lạ lùng. Vì thế, đã bao lần quay lại, tôi vẫn chưa biết tôi thực sự thích nhất điều gì ở nơi đây…

(Tháng Giêng 2009)

Cơm hộp (bento)


Chỉ một thời gian ngắn sau khi bắt đầu đi làm ở Tokyo, tôi đã “được” làm ngoài giờ nhân một sự kiện tin tức quan trọng. Thay vì tự đi ăn uống bên ngoài hoặc tự bỏ tiền ăn ở căng-tin, cơ quan thông báo sẽ mời “bento” cho tất cả những người phải ở lại. Tôi vốn không thích “cơm cặp lồng” từ hồi còn học đại học bởi “dị ứng” với thứ cơm được lèn chặt đã đóng cứng còn thức ăn thì đã mất hết cả vị khi nguội ngắt. Nhưng chiếc hộp đẹp đẽ còn nóng hổi được phục vụ sau đó đã làm tôi thay đổi quan niệm của mình về cơm hộp.
 
Trình bày đẹp và chất lượng cao. Đó là hai đặc điểm có thể kết luận ngay về hộp bento. Cơm được làm thành những “viên” gọn gàng, ngon mắt, còn thức ăn thì rất phong phú, nhiều món và nhiều màu sắc. Cái hay của đồ ăn Nhật là dù được hâm nóng hay để nguội thì chất lượng không khác nhau là bao.
 
Bento là một trong những loại đồ ăn phổ biến ở Nhật Bản vì trẻ em nào cũng phải mang đến trường để ăn trưa. Việc chuẩn bị bento khá cầu kỳ và một chị bạn Việt kiều cho tôi biết, nếu chuẩn bị không đúng cách (của người Nhật) thì con chị sẽ bị chúng bạn… cười chê (?!). Cũng có những cửa hàng bán bento tại chỗ, chuyên giao bento đến tận nơi, chẳng hạn như trường hợp trên của chúng tôi, nhưng bento phổ biến hơn tại các ga tàu điện hay xe bus, dành cho những người đi tàu xe.

Cơm hộp bento mua tại ga Tokyo

Bác lái xe ở Kyoto


Trong thời gian công tác ở Kyoto cuối năm 2007, tôi gặp một bác lái xe rất tận tình. Nếu cần nêu ví dụ về một nhân viên chuyên nghiệp thì có lẽ bác là ví dụ rõ ràng nhất.

Kể từ khi tôi bước lên xe của bác tại sân bay, trong suốt mấy ngày tiếp theo, bác lái xe này vô cùng tận tình tới mức tôi thấy… ái ngại. Thật chẳng hay chút nào khi một người tóc bạc cứ mở cửa xe cho mình, nhưng bác thì luôn mở sẵn cửa xe cho tôi bước vào và khi dừng xe thì bác cũng là người bước ra nhanh nhất.

Ngoài những cuộc phỏng vấn đã được sắp xếp trước, tôi được bố trí một ngày tự do để đi viết theo yêu cầu riêng. Chính bác lái xe là người chủ động giới thiệu lịch sử của từng địa điểm mà chúng tôi (gồm cả một chị phiên dịch) sắp đến, thậm chí bày cho tôi cách “chiếm vị trí đẹp” để chụp ảnh hoặc lấy thông tin.

Khi đi chụp ảnh lá đỏ hoặc leo núi thăm các ngôi chùa, bác lái xe mới thực sự thể hiện sự chu đáo của mình. Chẳng hạn nếu thả chúng tôi ở cổng chính hoặc lối đi chính thì bác sẽ chỉ cách để đi trọn quãng đường. Sang tới bên kia thì bác đã chờ sẵn, thậm chí leo lên cao để đón vì sợ chúng tôi lạc.

Nhưng câu chuyện đáng kể lại nhất là thế này: Kết thúc mấy ngày làm việc ở Kyoto, chính bác lái xe đưa chúng tôi lên Osaka, đi mất khoảng 1 giờ. Sau khi check-in, chúng tôi xuống phố ngay để đi ăn tối. Cũng vừa lúc ăn cơm xong thì bác lái xe gọi điện cho chị phiên dịch, nói rằng chị để quên một gói nhỏ trên xe và bác đang trên đường quay trở lại Osaka để hoàn trả. Dù chị có giải thích ra sao chăng nữa, rằng gói nhỏ đó không có giá trị gì, bác vẫn quả quyết quay lại để giao tận tay.

Chúng tôi vô cùng áy náy vì bác phải lặn lội thêm hơn hai tiếng đồng hồ giữa hai thành phố. Bởi vì đổi lại quãng đường xa giữa đêm tối chỉ là…. một gói kẹo trị giá khoảng 5 USD.

Nông nghiệp


Trước khi trở thành một trong vài nước công nghiệp hàng đầu thế giới, Nhật Bản cũng là một nước nông nghiệp với tỉ lệ nông dân trong tổng dân số tương đương với Việt Nam. Trước Minh Trị Duy Tân vào năm 1868, tới 80% dân số Nhật Bản làm nghề nông và lúa là nông sản chính. Các phương pháp thâm canh cần nhiều lao động được phát triển vì mỗi hộ gia đình chỉ có một diên tích ruộng hạn chế. Những đặc điểm nông nghiệp này đã làm gia tăng các thông lệ trong canh tác cũng như những tập tục ảnh hưởng đến toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản.

Kể từ sau Minh Trị Duy Tân, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã có ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp Nhật Bản. Tỉ lệ nông dân trong tổng dân số, tỉ lệ đất canh tác so với tổng diện tích đất nước, và tầm quan trọng của nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế đều giảm đi. Do những xu hướng đó, nhiều sự kiện và tập quán trong đời sống nông thôn Nhật Bản bắt đầu mất đi tầm quan trọng vốn có.

Nông nghiệp Nhật Bản bắt đầu cùng với việc trồng lúa. Và trong số các loại cây nông nghiệp được trồng ở Nhật Bản từ thời xa xưa còn có lúa mì, lúa mạch, kê, đỗ tương, củ cải. Các nông cụ cổ nhất làm bằng gỗ hoặc đá. Khi kỹ thuật từ lục địa giúp sản xuất ra các dụng cụ bằng sắt, nông nghiệp đạt tiến bộ nhanh chóng và những vùng đất đai bị bỏ hoang suốt thời gian dài được tận dụng để canh tác.

Từ cuối thời Heian (794-1185), những gia đình có thế lực nổi lên ở các tỉnh và trở nên giàu có nhờ sản xuất nông nghiệp. Khi kiểm soát được chính quyền trong thời Kamakura (1185-1333), họ tỏ ra quan tâm đến nông nghiệp nhiều hơn so với giới cai trị trước đó và khuyến khích nhiều cải tiến.

Với sự xuất hiện của nhiều thành phố và thị trấn trong thời Edo (1603-1868), tỉ lệ dân số không làm nghề nông tăng lên và các nông dân bị đòi hỏi phải sản xuất ngày càng nhiều hơn. Tuy nhiên, hơn một nửa số gạo sản xuất ra bị thu dưới hình thức thuế đất đai và nông dân thường xuyên không còn đủ để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Họ phải trồng thêm lúa mạch, lúa mì hoặc kê. Sản lượng nông nghiệp tăng lên nhờ những nỗ lực trong 3 lĩnh vực: khai hoang, phân bón và lai giống cây trồng.

Trong thời kỳ Nhật Bản tích cực hướng tới hiện đại hóa sau Minh Trị Duy Tân, các phương pháp canh tác của phương Tây được nghiên cứu kỹ lưỡng. Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên của đất đai ở Nhật hoàn toàn khác so với ở phương Tây, chỉ áp dụng cách trồng cấy với kỹ thuật của nước ngoài thì không hiệu quả. Do vậy người ta thay đổi trọng tâm, trở lại coi gạo là sản phẩm chính và phát triển những phương pháp thâm canh. Nhà nước lập các trung tâm thử nghiệm để tiến hành lai ghép những loại cây nông nghiệp quan trọng.

Trong số tất cả các chương trình cải cách sau Thế chiến 2, có lẽ Cuộc cải cách ruộng đất năm 1946 là thành công nhất trong việc tạo ra những thay đổi cơ bản và rộng khắp ở Nhật Bản. Việc phân phối lại đất đai một cách mạnh mẽ đã gần như chấm dứt tình trạng thuê đất vào năm 1949 và kết quả là khoảng 90% đất canh tác do chính người sở hữu tự trồng cấy. Tình trạng thiếu lương thực sau chiến tranh, giá cả cao, sự tồn tại của một chợ đen buôn bán gạo và lạm phát trong xã hội khi đó chính là những yếu tố tạo thuận lợi cho các nông dân Nhật Bản. Nói chung họ trả nợ cho diện tích ruộng đất mới của mình khá dễ dàng và bắt đầu đầu tư vốn để hợp lý hóa nông nghiệp.

Chính phủ giúp đỡ nhà nông bằng cách lập các chương trình hỗ trợ giá, nhất là đối với gạo. Chính phủ cũng dành sự ủng hộ mạnh mẽ cho các trường kỹ thuật nông nghiệp, các trung tâm thử nghiệm và các chương trình mở rộng. Các hợp tác xã nông nghiệp đẩy mạnh những hoạt động tích cực kể trên của chính phủ bằng cách cho vay với lãi xuất thấp và tiến hành tiếp thị theo nhóm ở cấp độ làng xã. Kết quả cuối cùng là hình thành một lực lượng nông dân tương đối dư giả, có học thức, được ưu đãi và có vốn cần thiết để mua giống mới cũng như phân bón để tăng sản lượng, đồng thời mua máy móc để giảm bớt nhu cầu về lao động.

Nhật Bản bắt đầu bị thiếu lao động vào cuối thập niên 50, sau khi bắt đầu tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Nhu cầu lớn về lao động tại các trung tâm công nghiệp đô thị khiến cho ngày càng nhiều người rời bỏ nông thôn. Một phần lớn trong lực lượng làm nghề nông khi đó là những người trên 45 tuổi. Bên cạnh đó, rất nhiều người chỉ làm nghề này theo thời vụ và hơn một nửa lực lượng lao động là phụ nữ. Xu hướng đi xuống này kéo dài cho tới tận nay. Nếu năm 1960, 26,8% lực lượng lao động là nông dân thì đến năm 1995 chỉ còn 5,1%.
Năm 1965, thu nhập từ nông nghiệp của mỗi hộ gia đình nông dân còn chiếm 48% tổng thu nhập, nhưng đến năm 1996 chỉ còn là 21,1%. Theo thống kê của Bộ nông-lâm-ngư nghiệp, tổng thu nhập bình quân mỗi năm của một hộ gia đình nông dân Nhật Bản trong năm 1996 là 6.647.400 yen, tính theo tỉ giá khi đó là vào khoảng 64.000 đôla.

Dường như nông nghiệp Nhật Bản không thể thành công nếu không có sự phổ biến của máy móc, hóa chất và những thiết bị giúp tiết kiệm lao động. Hiện tại việc canh tác hầu như được làm bằng máy. Các phương pháp canh tác truyền thống nhanh chóng nhường chỗ cho các máy cày, máy ủi và nhiều loại máy móc khác. Nhờ tất cả những yếu tố đó, tổng sản lượng gạo của Nhật Bản tăng từ 9,5 triệu tấn trong năm 1950 lên 13 triệu tấn vào năm 1975. Song mức tiêu thụ gạo tính theo đầu người đã giảm đi và chính phủ đang lo ngại với nhiều vấn đề như sản xuất quá nhiều và tồn kho quá lớn. Các nông dân được khuyến khích, có khi được trợ cấp, để chuyển từ trồng gạo sang các loại khác. Chính sách điều chỉnh sản xuất của chính phủ đã khiến bị thiếu gạo vào năm 1993 vì sản lượng gạo quá thấp. Những thay đổi về thói quen ăn uống của người Nhật cũng làm tăng mức sản xuất thịt, các sản phẩm sữa và rau quả.

Chỉ trong vòng 1 thế hệ, nền nông nghiệp truyền thống của Nhật Bản, dựa trên phương pháp thâm canh và đòi hỏi nhiều lao động, đã chuyển thành một hệ thống cần nhiều vốn và chủ yếu sử dụng máy móc, và nói chung kỹ thuật mới của nông nghiệp Nhật Bản được coi là hình mẫu cho các nước đang phát triển khác ở châu Á. Tuy nhiên, trong tương lai còn có một số vấn đề cần giải quyết, Chi phí sản xuất, nhất là đối với gạo, vẫn quá cao và nông nghiệp Nhật Bản cần được trợ cấp rất lớn. Hầu hết các nông trang quá nhỏ về quy mô để sử dụng tối đa đất đai và vốn. Khi nào và bằng cách nào các nông trang của Nhật Bản sẽ đạt tới quy mô hiệu quả hơn vẫn là một câu hỏi cho tương lai./.


Người Việt Nam tại Nhật Bản không nhiều, chỉ chưa đầy 8000 người – một con số vô cùng ít ỏi so với hàng chục, hàng trăm ngàn người Việt ở một số nước châu Âu, chứ chưa nói đến con số cả triệu người ở Mỹ. Người Việt Nam ở Nhật cũng xuất phát từ nhiều nguồn gốc khác nhau: có người du học sang Nhật rồi ở lại, có người sang vì lý do đoàn tụ gia đình, và cả những người là thuyền nhân.

Có người cho rằng người Việt Nam không dễ thích nghi môi trường xã hội Nhật Bản, và vĩ lẽ đó không mấy người thành công tại đất này. Quả thực, trong số Việt kiều nằm rải rác tại Nhật Bản, có thể thấy một số lượng không nhỏ chỉ lao động chân tay, làm những việc nặng nhọc và cuộc sống không được đầy đủ. Song cũng có những người thành đạt và vươn tới những vị trí nhất định trong xã hội Nhật.

Một Việt kiều tại Nhật Bản, được người Việt Nam biết nhiều nên có thể kể trên ngay, là giáo sư Trần Văn Thọ. Ông không những là chuyên viên kinh tế cao cấp thuộc trung tâm nghiên cứu kinh tế NB, giáo sư kinh tế của trường đại học Obirin và có thời gian là giáo sư thỉnh giảng khoa kinh tế trường Đại học Quốc gia Hà Nội, mà từng là ủy viên chuyên môn ban cố vấn kinh tế cho nhiều nhiệm kỳ thủ tướng Nhật, và trước đây cũng là một trong những ủy viên ban cố vấn về cải cách kinh tế và hành chính cho thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt. Hiện tại, ông còn nằm trong ủy ban nghiên cứu các vấn đề kinh tế liên quan đến kế hoạch chuyển thủ đô của Nhật Bản.

Một Việt kiều thành đạt khác tại Nhật là Tiến sĩ Đặng Lương Mô. Thuộc lớp người đầu tiên được nhận học bổng của chính phủ Nhật Bản dành cho Việt Nam từ sau Thế chiến 2, ông tới Nhật Bản vào tháng 4/57 và học tiếng Nhật một năm trước khi vào học tại Đại học Tokyo – nơi ông đã đậu khóa đầu tiên của khoa Kỹ thuật điện tử là một khoa mới mở. Sau khi lấy bằng Tiến sĩ khoa học kỹ thuật, ông làm công tác nghiên cứu tại công ty Toshiba. Năm 1971, ông trở về Việt Nam, giảng dạy trong 5 năm tại Đại học Sài Gòn và Học viện kỹ thuật quốc gia, nay là Đại học bách khoa thành phố Hồ Chí Minh.

Trở về Nhật Bản, ông tiếp tục làm việc cho Toshiba cho đến khi nhận về giảng dạy tại Đại học Hosei vào năm 1983 và hiện là trưởng khoa tin học điện tử tại trường này. Tiến sĩ Đặng Lương Mô là hội viên chính thức của nhiều hội học thuật danh tiếng ở Nhật và Mỹ, kể cả Hội kỹ sư điện tử, tin học và truyền thông Nhật Bản và hội kỹ sư Mỹ. Từ năm 1992, ông được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học New York.

Trả lời câu hỏi của tôi về cuộc sống và làm việc tại Nhật Bản, tiến sĩ Đặng Lương Mô nói: “Nói chung tôi thấy ở Nhật Bản khó thành công. Một lý do là ngôn ngữ Nhật rất khó. Người ngoại quốc qua đây 1 năm, 2 năm tưởng là mình đã nói thoát được tiếng Nhật. Nhưng thật ra đó là phiến diện. Hiểu sâu được tiếng Nhật phải mất nhiều năm, phải nỗ lực. Muốn thành công ở Nhật Bản, trước nhất phải biết rành rõi tiếng Nhật. Thứ hai là phải chịu khó làm quen, làm bạn với nhiều người Nhật. Tôi đã thấy nhiều nhóm người Việt Nam, qua đây biết đến một đoạn nào đó rồi không tìm hiểu thêm, chỉ tụ tập với nhau. Như vậy khó lòng có thể thành công ở Nhật Bản.”

Một người khác cũng cho rằng học giỏi tiếng bản địa là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công tại Nhật Bản, là bác Nguyễn Văn Ngân, giám đốc công ty thương mại Đông Dương. Bác sang Nhật từ cuối năm 1941 và học kinh tế tại trường Đại học Tokyo. Ngay từ khi còn trẻ, bác từng được cử điều hành chi nhánh của một công ty xuất nhập khẩu Nhật, và năm 29 tuổi đã lập công ty riêng, rồi mở một nhà hàng tại khu Ginza của Tokyo từ năm 1950. Ba năm trước, bác mở nhà hàng thứ 2 và năm nay mở thêm nhà hàng thứ 3. Bác cho biết về công việc kinh doanh của mình: “Tôi xuất cảng đồ tạp hóa, máy khâu, máy dệt cho những hãng dệt lớn. Ngoài ra xuất cảng những đồ tạp hóa sang Mỹ. Những đồ đó giúp tôi có lãi nhiều. Cái tiệm cơm của tôi, 10 năm trước tôi không để ý đến nhiều lắm, do nhà tôi làm hết, chỉ coi là một phần trong hoạt động của mình thôi chứ không để nhiều công sức vào làm. Nhưng sau đó tôi đổi chính sách làm việc của tôi, để ý hơn về buôn bán trong nước. Vì thế nên trong 4 năm nay, chúng tôi mở thêm cửa hàng đây. Và cũng theo phong trào của người Nhật, chúng tôi lợi dụng phong trào đó nên mới mở thêm cửa hàng nhanh như thế”

Bác Ngân nằm trong số ít người nước ngoài đã trải qua cơn bĩ cực cùng cả nước Nhật Bản, đã chứng kiến những thăng trầm của Nhật. Bác cho rằng để thành công, ngoài việc phải học thấu đáo tiếng Nhật và nắm những kiến thức cơ bản, cần phải có sự nhanh chạy nắm bắt tình thế. Riêng đối với bản thân bác, bên cạnh nỗ lực bản thân còn có một yếu tố khác nữa là mối quan hệ thân thiện của những người bản xứ.

“Đối với tôi thì tôi làm việc như tất cả những người khác Nỗ lực của mình đã đưa tôi đến đây. Nhưng một phần lớn là ở sự tử tế của những người mà tôi đi lại, những người bạn của tôi sau chiến tranh…”

Tôi gặp anh Nguyễn Quan Lữ, 51 tuổi, viên chức cấp cao của một công ty mậu dịch lớn của Nhật Bản. Anh sang Nhật vào năm 1970 theo diện học tự túc. Cũng như nhiều người Việt khác sang đây du học, cuộc sống ban đầu của anh không dễ dàng, một phần lớn vì mới bắt đầu học tiếng.

27 năm đã trôi qua kể từ ngày đầu đặt chân lên đất nước Nhật. Giờ đây, với học vị tiến sĩ nông nghiệp và nhiều năm kinh nghiệm, anh Nguyễn Quan Lữ đã được cử nắm một chức vụ quan trọng trong công ty. Anh phụ trách công tác thị trường nên thường phải đi công tác nước ngoài, bận bịu tham dự các hội nghị song phương, nghiên cứu các thông tin, quy định nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh của công ty. Đổi lại, anh có một vị trí mà chính nhiều người Nhật cũng nể trọng. Từ kinh nghiệm bản thân, anh rút ra những yếu tố đưa đến thành công tại Nhật Bản như sau:

“Tôi nghĩ rằng điều cơ bản là trong xã hội Nhật yêu cầu người ta phải có tính hòa đồng vào tập thể, nhẫn nại cần cù để làm quen với công việc. Đó là những yếu tố quan trọng. Nhưng vấn đề được hay không được còn tùy theo sự may mắn, ngoài ý muốn của mọi người. Nhiều người có năng lực hơn tôi nhưng có thể chưa gặp may mắn nên chưa đạt được ý muốn của mình. Chúng ta phải đánh giá sự nỗ lực của bản thân nhưng đồng thời phải thừa nhận yếu tố may mắn trong đó. Nhất là ở xã hội Nhật này, các điều kiện xã hội chưa phóng khoáng đầy đủ để tiếp nhận với người nước ngoài như với người bản xứ, nên sự may mắn đưa mình đến với 1 công ty hiểu và thông cảm và tạo điều kiện giúp đỡ mình là sự may mắn.”

Như phát biểu của anh Nguyễn Quan Lữ, sự hòa đồng là một yếu tố khá đặc trưng trong xã hội Nhật Bản. Vì thế, người ngoại kiều lại càng phải cố gắng nhiều hơn để thích nghi với lối sống và làm việc này, và họ cần có sự thông cảm và hỗ trợ của người bản địa.

Sự giúp đỡ của những người bạn Nhật cũng là yếu tố quan trọng để chị Nguyễn Thị Giang mở được nhà hàng Việt Nam của riêng mình cách đây hai tháng. Chị Giang không có được lợi thế của tuổi trẻ bởi khi sang Nhật vào năm 1988, chị đã cập kê tứ tuần. Nghe chị kể chuyện, chúng tôi cảm nhận được sự nỗ lực không mệt mỏi của người phụ nữ này. Để tăng thêm thu nhập cho gia đình 5 người, chị vừa tranh thủ học tiếng Nhật, vừa làm nhiều công việc – từ lắp ráp linh kiện điện tử cho đến dạy nấu ăn, phục vụ nhà hàng. Rồi chị được bạn bè, người quen giúp thêm về tài chính và đứng ra bảo lãnh để mở nhà hàng Việt Nam. Từng là giáo viên dạy nấu ăn tại Việt Nam trước khi sang Nhật nên chị rất tự tin với công việc của mình. Tuy nhiên, chị cho biết mục tiêu chính yếu khi mở nhà hàng chỉ là để giới thiệu văn hóa Việt Nam.

“Mình là người ngoại quốc mà sống ở nước ngoài, thành đạt rất là khó. Đầu tiên là vấn đề văn hóa, rồi ngôn ngữ khác biệt. Dù cho có thành công thì cũng chỉ tới giới hạn nào thôi. Thành công mà để mãn nguyện chắc không ai có. Tôi hài lòng vì bây giờ tôi đã giới thiệu dược văn hóa Việt Nam cho người Nhật. Mỗi người khách đến đây đi ra khen món ăn Việt Nam ngon. Đó không phải là khen bản thân tôi mà khen nước Việt Nam tôi có những món ăn ngon, điều đó khiến tôi rất mãn nguyện.”

Những người Việt Nam chắc chắn đều vui khi thấy Việt kiều ở hải ngoại thành đạt và nhiều việc làm của họ gắn liền với niềm tự hào đối với tổ quốc. Và càng vui khi nghe nhắc tới những người thuộc dòng giống Lạc Việt đã cống hiến nhiều thành tựu cho thế giới.

Có lẽ không chỉ chúng tôi mà nhiều thính giả sẽ rất bất ngờ khi biết, nhiều kỹ thuật ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày hiện nay, nhất là tại các nước tiên tiên, chính là nhờ phát minh của một người Việt Nam. Đó là cụ Lê Văn Quý, một trong những người Việt đến ở Nhật Bản lâu đời nhất. Cụ sang Nhật vào năm 1943 theo diện trao đổi sinh viên Việt-Nhật, đúng vào lúc đang xảy ra Thế chiến II. Cụ theo học ngành điện tử và nhờ chú tâm vào việc nghiên cứu, cụ đã có hàng chục phát minh đã đăng ký bản quyền và bán cho nhiều công ty Nhật cũng như trên thế giới, không kể một số phát minh chưa đăng ký. Có thể kể tên một số phát minh quan trọng của cụ như: cửa tự động, vòi nước tự động, tăng độ sáng của đèn xe, máy kiểm tra chỗ hỏng hóc của xe hơi,v.v… Nhiều phát minh của cụ góp phần không nhỏ trong sự phát triển của các hãng xe hơi Toyota, Nissan.

Cụ tâm sự về những phát minh của mình: “Tôi có các bằng phát minh về máy móc động cơ, về đèn nê-ông, cách sơn xe hơi và nhiều phát minh về máy truyền hình. Ví dụ các máy CD, đầu pick-up không có kim, dùng ánh sáng, cái đó tôi nghĩ đã lâu, cả về máy ảnh nữa. Nhiều nhiều lắm, có 4-5 chục cái tôi bán ngay. Hiện còn khoảng 10 cái tôi chưa bán được. Không phải tôi thích gì chuyện phát minh đâu. Chính là vì đời sống. Phát minh cho một số tiền rất lớn và rất mau. Nhưng cạnh tranh với Nhật khó khăn lắm, phát minh không khéo thì họ nắm lấy và bắt chước ngay mà chẳng lấy được một xu nào cả.”

Năm nay, tuy không còn khỏe vì đã ở tuổi 80, cụ vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu xe hơi chạy điện – một kỹ thuật cho tương lai. Với tư cách một nhà khoa học có nhiều phát minh, cụ khẳng định người Việt Nam không hề thua kém bất kỳ nước nào trên thế giới:

“Mới đầu sang đây tôi thấy đời sống vất vả khó khăn lắm, vì người Nhật làm việc khá nặng đấy cho nên khó lòng mà sống được bên này. Nhưng sau khi làm qua với các xưởng máy Nhật thì thấy người Việt mình không kém gì người Nhật cả nếu mình cố gắng. Cho nên tôi thấy anh em Việt Nam mà sang đây nhiều, mình theo các xưởng máy Nhật thì nước của mình không kém gì nước Nhật đâu.”

Bác Nguyễn Văn Ngân, giám đốc công ty thương mại Đông Dương, cũng nói nỗ lực chính là yếu tố giúp mọi người vươn lên và vượt qua chính mình.

“Số phận là một yếu tố trong cuộc đời người ta. Nhưng nói số phận ta chỉ có thế này thôi và ta bằng lòng với số phận của mình, sống một đời khó khăn. Trong một phần nào có thể đổi số phận đó bằng cách cố sức. Nghèo đi chăng nữa cũng phải cố, và cố gắng đó, trong chừng mực nào, có thể thay đổi được số phận của mình. Nỗ lực của mình có thể giúp một phần trong sinh sống và trong sự thành công của mình nó cũng là một yếu tố lớn”

Có thể có người vẫn bám lấy suy nghĩ, phải ra nước ngoài mới thành công. Song thực tế chính bản thân những người thành đạt thừa nhận, hoàn cảnh và sự may mắn chưa thể mang lại tiền của và danh vọng vững bền. Hai yếu tố quan trọng nhất chính là kiến thức và nỗ lực bản thân. Tiến sĩ Đặng Lương Mô có vài lời khuyên với giới trẻ Việt Nam: “Lẽ dĩ nhiên là cần phải mở rộng cửa để thanh niên Việt Nam đi ra nước ngoài để mở rộng tầm mắt, để biết hơn. ôi nghĩ tuổi trẻ nên có tham vọng. Đối với thanh niên Việt Nam, tôi khuyên là nên cố gắng. Tốt hơn hết là hãy cố gắng ở trong nước.”

Những người như cụ Quý, bác Ngân, anh Lữ, chị Giang, giáo sư Trần Văn Thọ, tiến sĩ Đặng Lương Mô, chỉ là một vài ví dụ về sự thành đạt của người Việt Nam ở Nhật Bản nói riêng và ở nước ngoài nói chung. Họ đã đạt tới địa vị nhất định trong xã hội, hoặc chí ít cũng có một cuộc sống ổn định trong một xã hội nhiều cạnh tranh. Họ là những cá nhân trong cả một cộng đồng người Việt ở trong nước cũng như nước ngoài, luôn nỗ lực để vượt lên mọi hoàn cảnh.

Do những lý do khác nhau, họ đã đến sinh sống làm ăn tại Nhật Bản, nhưng tấm lòng họ luôn hướng về đất Việt phương nam – nơi mới thực sự là quê hương, mới thực sự là nơi họ gửi gắm tâm hồn mình. Sau những giờ lên lớp, những khi tan sở, những lúc nghỉ tay giữa ca làm việc, sau khi trút bỏ những bộn bề, bon chen trong cuộc sống và trở về với mái ấm gia đình, họ luôn hướng về Việt Nam. Chúng tôi xin trích lời chị Nguyễn Thị Giang làm phần kết cho chương trình này:

“Tôi thấy ở đây có nhiều công ăn việc làm. Nếu đi làm thì cuộc sống ổn định, không phải lo lắng. Nhưng về vấn đề tinh thần chẳng hạn như láng giềng bạn bè thì những người Việt Nam ở Nhật Bản đều buồn chứ không phải mình tôi. Ở đây thấy bạn bè mệt, có những gì mình buồn, vất vả cũng không dám nói hết, nói ra bạn bè lo lắng rồi làm phiền người ta. Giữ kẽ với nhau nên lần lần tình cảm xa cách.

“Chẳng hạn những ngày Tết của Nhật Bản, chẳng nghe tiếng pháo, chẳng thấy gì về tết nhất, lúc đó có lẽ nằm mà khóc vì nhớ về quê hương, nhớ cha nhớ mẹ mình. Những ngày tết là vấn đề thiêng liêng, rồi còn những ngày giỗ chạp. Tôi sang đây ngày giỗ chạp không có thì giờ để làm, nhiều khi nghĩ cảm thấy buồn lắm ngoài ra không nghĩ được về quê hương được nữa. Những khi rảnh rỗi, trời mưa hay ngồi xe điện, nghĩ đến gia đình nhiều, buồn.”

Không ai có thể hiểu nỗi buồn xa xứ nếu không ở vào hoàn cảnh của những người phải sống xa Tổ quốc. Nhưng càng trân trọng hơn khi họ đã khẳng định chính mình và vươn lên trong một xã hội hoàn toàn xa lạ, trong lúc vẫn một lòng nhớ về quê hương./.

(Chương trình phát thanh NHK – 9/1997)

Note: Trong chuyến thăm Nhật gần đây, tôi được tin cụ Lê Văn Quý đã qua đời nhiều năm trước. Xin gửi lời tiễn biệt muộn mằn tới gia quyến. Những nhân vật trong bài viết này cũng đã có nhiều thay đổi về công việc.

Bunraku


Bunraku là nghệ thuật kịch rối chuyên nghiệp của Nhật Bản. Giống như kịch kabuki, bunraku là một hình thức nghệ thuật lâu đời, do tầng lớp thị dân phát triển trong thời kỳ Edo (1603-1867). Từ bunraku có nguồn gốc tương đối mới. Trong số nhiều nhà hát rối của thời kỳ Edo, duy nhất chỉ có Bunraku-za, do Banrakuken Uemura lập nên vào đầu thế kỷ 19 ở Osaka, hoạt động hiệu quả về mặt thương mại trong xã hội Nhật hiện đại, và bunraku trở nên có nghĩa là “kịch rối chuyên nghiệp”.

Biểu diễn bunraku bao gồm 4 yếu tố: các con rối bằng một nửa hoặc 2/3 kích thước người thật; chuyển động của các con rối do những người điều khiển đảm trách; tiếng nói của các nhân vật do một người kể chuyện gọi là tayu phụ trách; và âm nhạc do một người chơi loại đàn 3 dây gọi là shamisen. Để tăng tính phức tạp, mỗi con rối trong vai các nhân vật chính do 3 người điều khiển.

Rối bunraku không phải được điều khiển bằng dây. Người điều khiển chính dùng tay và bàn tay trái đỡ con rối, đồng thời điều khiển cơ cấu kiểm soát chuyển động của mí mắt, nhãn cầu, lông mày và miệng; còn dùng tay phải điều khiển tay phải của con rối. Người trợ lý thứ nhất chỉ phụ trách điều khiển tay trái con rối trong khi người trợ lý thứ 2 điều khiển 2 chân của con rối.

Bunraku

Những người điều khiển các con rối thường mặc quần áo đen, chỉ người điều khiển chính để hở mặt còn các trợ lý thậm chí chụp kín đầu để trở nên “vô hình” trong mắt khán giả. Một người tayu phải lồng tiếng cho tất cả các con rối trên sân khấu, bao gồm cả nhân vật đàn ông, phụ nữ lẫn trẻ em, nên giọng nói phải có âm vực rộng.

Một đặc điểm nổi bật về âm thanh trong bunraku là tiếng nhạc trầm du dương của đàn shamisen, trái ngược với âm thanh cao của đàn shamisen tenor trong kịch kabuki. Trong kịch kabuki có thể sử dụng giàn nhạc gồm 10 đàn shamisen trở lên nhưng trong bunraku thông thường chỉ có một nhạc công mà thôi. Trong bunraku, chuyển động của các con rối phải khớp với câu chuyện kể của tayu và âm thanh đàn shamisen. Nhạc công chơi shamisen thông thường là người quyết định tốc độ kể chuyện và thời gian đối với hành động của con rối.

Về lịch sử của nghệ thuật rối Nhật Bản, những sách đầu tiên có ghi lại là vào thế kỷ 11. Người ta cho rằng thậm chí trước đó, những thợ săn lang thang đã kiếm tiền thêm bằng cách dùng các con rối nhỏ diễn kịch mua vui tại các thị trấn. Về sau nhiều người định cư tại Sanjo trên đảo Awaji, nơi sinh ra ngành kịch rối chuyên nghiệp.

Trong thế kỷ 15 và 16, những người mù hát rong kể chuyện lịch sử thường dùng biwa, một loại đàn có nguồn gốc từ Ba Tư, gần giống với đàn tì bà của Việt Nam. Rồi cách kể chuyện thay đổi đáng kể vào thế kỷ 16 với sự phát triển của hình thức kể chuyện gọi là joruri. Cũng trong khoảng thời gian đó, đàn shamisen được đưa từ Okinawa đến Nhật Bản và được những người kể chuyện joruri ưa chuộng hơn đàn biwa. Trong khi đó, những người chơi shamisen sáng tác ra các khúc nhạc mới, có ảnh hưởng đến cách kể chuyện joruri. Sự phối hợp này là khởi nguồn của bunraku, tạo sự hấp dẫn cho tầng lớp thị dân, những người ở thang bậc thấp trong xã hội nhưng dần dần chi phối về kinh tế, nghệ thuật và văn hóa trong thời đại mới.

Vào giữa thế kỷ 17, nhà hát rối phát triển mạnh mẽ ở Osaka và Kyoto, nơi những người biểu diễn rối và người kể chuyện joruri có nhiều sáng tạo mới về nghệ thuật. Trong thời kỳ này, sự phối hợp giữa nghệ sĩ kể chuyện tài ba Takemoto Gidayu I ở Osaka và nhà viết kịch vĩ đại nhất thời kỳ Edo, ông Chikamatsu Monzaemon, đã góp phần chuyển bunraku từ một hình thức giải trí quần chúng thành nhà hát nghệ thuật. Vào thế kỷ 18, nhiều kỹ thuật như chuyển động mí mắt và miệng được phát minh và hiện vẫn sử dụng trong bunraku ngày nay.

Có thể nói kịch kabuki và kịch rối bunraku có những mối liên hệ qua lại. Các diễn viên kabuki chịu ảnh hưởng bởi phong cách của những người kể chuyện trong bunraku và thậm chí bắt chước những điệu bộ được cách điệu hóa của các con rối. Ngược lại, nếu một sáng tạo nhất định trong kabuki làm khán giả vui thích, những người trong ngành bunraku sẽ đưa vào các tác phẩm của họ.

Do bị kịch kabuki dần dần lấn át, bunraku trở nên suy sút từ nửa sau thế kỷ 18, tuy các nghệ sĩ biểu diễn đã đạt những đỉnh cao mới về nghệ thuật và kỹ thuật. Rồi trong bối cảnh người Nhật quay sang các hình thức nghệ thuật sân khấu phương Tây và phát triển nhà hát hiện đại riêng, bunraku không thể cạnh tranh thu hút khán giả. Sau thế chiến 2, bunraku bị lu mờ vì nhiều người Nhật xa rời những khía cạnh truyền thống trong văn hóa, và vào đầu thập niên 60, môn nghệ thuật này gần như trở nên không có giá trị thương mại.

Bunraku tồn tại được chủ yếu là nhờ sự hỗ trợ của chính phủ cũng như việc thành lập Nhà hát quốc gia ở Tokyo và Nhà hát bunraku quốc gia ở Osaka. Bunraku hồi sinh như hiện nay là nhờ một xu hướng mới tôn trọng truyền thống trong thanh niên Nhật. Tuy nhiên, có thể nói tương lai của bunraku còn chưa rõ ràng./.

Kiếm Nhật Bản (Nihonto)


Hình ảnh những chàng võ sĩ samurai tả xung hữu đột đã rất đỗi quen thuộc với nhiều người. Và thanh kiếm Nhật trong tay các samurai cũng nổi tiếng trên toàn thế giới, bởi nó không chỉ là vũ khí hữu hiệu mà còn là những tác phẩm nghệ thuật đích thực.

Sách sử ghi lại, thanh kiếm Nhật Bản, tiếng Nhật gọi là nihonto, có nguồn gốc từ thế kỷ 8. Những thanh kiếm Nhật Bản đặc biệt gây ấn tượng và được chú ý vì nghề luyện thép của Nhật Bản sớm đạt kỹ thuật điêu luyện và vì kiếm Nhật có hình dáng thanh nhã, những đường gờ, vân và nước thép tuyệt vời. Trong suốt hơn 12 thế kỷ, thanh kiếm có ý nghĩa tinh thần vô cùng to lớn đối với người Nhật. Cùng với gương và bảo ngọc, nó là một trong 3 biểu tượng của Hoàng gia.

Để làm ra thanh kiếm vừa là vũ khí, vừa là một hình thức nghệ thuật, cần có 2 điều kiện: thứ nhất, phải có thời gian ổn định đủ để các thợ rèn kiếm chuyên tâm vào công việc của mình; thứ hai, phải tồn tại sự bất ổn đủ để tạo ra nhu cầu về kiếm. 500 năm đầu tiên trong lịch sử thanh kiếm Nhật Bản hội tụ cả hai điều kiện này. Hầu hết những trận chiến huyền thoại xảy ra vào thời gian đó.

Võ sĩ samurai và kiếm Nht

Truyền thuyết Nhật Bản kể rằng người thợ rèn kiếm tài ba Amakuni vào khoảng năm 720 sau công nguyên chính là người đã sáng tạo ra thanh kiếm đặc thù Nhật Bản: kiếm dài, 1 cạnh sắc, cong, và cầm bằng hai tay. Trước đó, các thanh kiếm ở Nhật đều là bắt chước kiếm của Trung Quốc và Triều Tiên: cũng là loại cầm bằng hai tay nhưng thẳng và có 1 hoặc 2 cạnh sắc.

Nghề rèn kiếm của Nhật Bản rất được kính trọng. Xưa kia, những thợ rèn kiếm thường là yamabushi, tức là thành viên của giáo phái Shugendo theo lối sống khắc kỷ và hoàn toàn thờ phụng tôn giáo. Có gần 200 trường dạy nghệ nhân rèn kiếm trên toàn Nhật Bản, mỗi trường có lịch sử và những đặc điểm riêng rõ rệt.

Kỹ thuật luyện thép được đưa vào Nhật Bản khoảng thế kỷ 3 đến thế kỷ 5 sau công nguyên, và ngay từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 10, Nhật Bản đã làm ra những lưỡi kiếm cực kỳ sắc bén. Sau khi luyện, thép kawagane được quai búa nhiều lần thành các tấm thép mỏng, sau đó làm cho cứng lại, đập thành những miếng nhỏ như đồng xu, rồi được rèn thành loại thép shingane không bị giòn nên khó bị gãy hơn. Quy trình rèn nhiều lần như vậy tạo ra lưỡi kiếm Nhật Bản có chất lượng độc đáo với những đường vân giống như gỗ.

Nước thép của lưỡi kiếm sau khi tôi (hamon) là một trong những đặc điểm đẹp nhất và dễ nhận thấy nhất của thanh kiếm, đồng thời cũng là phần quan trọng để xác định nguồn gốc thanh kiếm. Nói chung mỗi trường hoặc mỗi người thợ rèn áp dụng một kiểu tôi kiếm riêng.

Lưỡi kiếm Nhật Bản được phân loại theo độ dài. Đơn vị đo là shaku, tương đương 30cm. Taito (trường kiếm, tức kiếm tachi hoặc katana) có độ dài hơn 2 shaku. Shoto (đoản kiếm, tức kiếm wakizashi) có lưỡi dài trong khoảng từ 1 đến 2 shaku. Lưỡi kiếm tanto thường ngắn hơn 1 shaku.

Có thể tóm lược quá trình lịch sử của kiếm Nhật Bản như sau:

Kiếm cổ koto được phát hiện trong các ngôi mộ cổ từ thời kỳ Kofun (năm 300-710) và đều bị rỉ sét. Các thanh kiếm cổ này nói chung có lưỡi gần như thẳng với mũi kiếm nhỏ vát nhọn. Kiếm của thời Nara (710-794) và đầu thời Heian (794-1185) cũng tương tự những kiếm tìm thấy trong các ngôi mộ kể trên, nhưng các thanh kiếm này ngắn hơn và nhẹ nên có lẽ dùng để đâm chứ không phải để chém. Từ khoảng thế kỷ 9 và thế kỷ 10, các lưỡi kiếm được làm dài hơn với hình hơi cong và có đường gờ ở hai bên, trở thành vũ khí hiệu quả cho các chiến binh cưỡi ngựa.

Chất lượng kiếm được cải thiện rất nhiều vào giữa thời Heian và đầu thời Kamakura, tức là khoảng thế kỷ 10 đến đầu thế kỷ 13, khi kiếm được sử dụng nhiều hơn. Kiếm thời Kamakura (tachi) là loại có chất lượng cao nhất, cả về tính nghệ thuật và kỹ thuật, với những thợ rèn tên tuổi như Muramasa và Masamune. Hầu hết các thanh kiếm bảo vật quốc gia của Nhật Bản đều là những thanh kiếm của thời kỳ này. Do những cải tiến về áo giáp, kiếm phải dài hơn và nặng hơn. Những thanh kiếm cuối thời Kamakura thường dài từ 1m đến 1,5m, và thường chỉ do những võ sĩ cưỡi ngựa sử dụng. Sau đó người ta làm nhiều thanh kiếm ngắn hơn để đánh giáp lá cà.

Kiếm Nht

Trong thời Muromachi (1333-1568), vì xung đột kéo dài và chiến tranh liên miên, sản xuất kiếm tăng lên về số lượng nhưng chất lượng lại giảm sút, kiếm trở nên nặng hơn, to bản hơn, ít cong và ngắn đi rất nhiều, với mục đích có thể chém được các loại giáp dày. Loại lưỡi kiếm mới này gọi là katana và dài chừng 60cm. Tiếp đến xuất hiện loại lưỡi ngắn hơn gọi là wakizashi.

Trong thời Azuchi-Momoyama (1568-1600) và thời Edo (1600-1868), nhiều thợ rèn mở trường mới và người ta chú ý đến những kỹ thuật rèn kiếm thời Kamakura đã thất truyền rất nhiều. Họ cố gắng bắt chước những thanh kiếm đó nhưng bị hạn chế bởi chỉ có nhu cầu về kiếm đánh giáp lá cà. Nhiều chiếc kiếm thời kỳ này có nước thép tôi tuyệt vời, thép rèn kỹ, lại được chạm khắc đẹp. Bao kiếm, chuôi và dây đeo cũng được trang trí cầu kỳ.

Những năm từ 1800 đến cuối thời Edo được gọi là thời kỳ Shinshinto (tân tân kiếm) trong lịch sử thanh kiếm Nhật Bản. Đây là thời kỳ phục hưng ngắn, được đánh dấu bằng nỗ lực cuối cùng nhằm hồi sinh vẻ đẹp và chất lượng của kiếm cổ.

Năm 1868, Nhật Hoàng Minh Trị ban hành quy định cấm sản xuất hoặc mang kiếm, nhưng cho phép một nhóm nhỏ thợ rèn tiếp tục công việc để duy trì nghệ thuật này. Việc sử dụng kiếm tăng lên trong thời gian chiến tranh Nga-Nhật năm 1904-1905 và trước thế chiến 2, khi các sĩ quan buộc phải đeo kiếm như một phần trong quân phục và nhằm khơi dậy tinh thần võ sĩ đạo. Tuy nhiên kiếm dùng trong quân đội không phải là những thanh kiếm nghệ thuật thực sự mà làm từ thép sản xuất bằng máy, và khi sản xuất hàng loạt thì đương nhiên chất lượng là yếu tố đầu tiên bị giảm sút.

Sau Thế chiến 2, lực lượng chiếm đóng ra lệnh hủy tất cả các loại kiếm, nhưng rồi lệnh này được sửa đổi nhằm để lại những thanh kiếm mang ý nghĩa tôn giáo, tinh thần hoặc nghệ thuật, thuộc về các bảo tàng, đền chùa hoặc các bộ sưu tập cá nhân. Song một số lượng rất lớn các thanh kiếm tốt đã bị hủy và nhiều thanh kiếm khác bị đưa ra nước ngoài dưới hình thức quà tặng.

Tuy nhiên, mối quan tâm đến nghệ thuật rèn kiếm cổ dần dần tăng trở lại và nhiều thợ rèn đang cố khôi phục lại những kỹ thuật xa xưa. 5 trung tâm dạy rèn kiếm nổi tiếng nhất của Nhật Bản là Bizen, Sagami, Yamato, Yamashiro và Mino. Kể từ năm 1954, các cuộc thi kỹ thuật rèn kiếm hàng năm cũng góp phần quan trọng trong việc nâng chất lượng kiếm.

Hiện tại có một số quy định như sau về kiếm Nhật Bản và nghề rèn kiếm:

1) Chỉ các thợ rèn kiếm có bằng cấp được sản xuất kiếm Nhật (những dụng cụ cắt dài từ khoảng 15cm trở xuống không thuộc đối tượng của quy định này). Muốn được cấp bằng phải học việc từ một thợ rèn kiếm có bằng cấp trong thời gian tối thiểu là 5 năm.
2) Một thợ rèn kiếm có bằng cấp chỉ được sản xuất tối đa mỗi tháng 2 trường kiếm và 3 đoản kiếm.
3) Tất cả các thanh kiếm đều phải đăng ký với Cục văn hóa.

Nhật Bản là đất nước nổi tiếng về gìn giữ những truyền thống xa xưa. Qua hàng trăm, hàng ngàn năm lịch sử, nhiều môn nghệ thuật vẫn được duy trì cho đến tận ngày nay, trong đó có thanh kiếm Nhật. Bởi đã trở thành nghệ thuật chứ không chỉ đơn thuần là một vũ khí, thanh kiếm Nhật mới có thể truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ, thậm chí làm cho nhiều người trên thế giới say mê./.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 52 other followers